| Thay lời tựa |
Chế Lan Viên |
5 |
| Vài lời về cách làm cuốn sách |
Nhóm biên soạn |
11 |
| THẾ KỶ X — XV |
|
15 |
| Tài nghệ tinh thông sâu rộng |
Nguyễn Công Bật |
17 |
| Ẩm nhạc và điềm nước mất nước loạn |
Nguyễn Thường |
18 |
| Ghi chép truyện thần linh |
Lý Tế Xuyên |
18 |
| Truyền thuyết và lịch sử |
Hồ Tông Thốc |
19 |
| Không bỏ sót hạt châu dưới biển |
Phan Phu Tiên |
21 |
| Làm thơ không thề lấy một lệ luật để hạn chế |
Lý Tử Tấn. |
22 |
| Một nước văn hiến |
Nguyễn Trãi |
24 |
| Lễ nhạc văn |
|
25 |
| Hý đề |
|
26 |
| Tích cảnh. |
|
27 |
| Báo kính cảnh giới |
|
27 |
| Tại sao thơ văn bị mất mát |
Hoàng Đức Lương |
28 |
| Lĩnh Nam liệt truyện có quan hệ đến cương thường phong hóa |
Vũ Quỳnh và Kiều Phú |
30 |
| THỂ KỶ XVI — XVI |
|
33 |
| Gượng viết, bài văn chỉ là sự xếp chữ mờ mịt |
Nguyễn Thiên Túng |
35 |
| Về tập thơ Am Bạch Vân |
Nguyễn Bỉnh Khiêm |
36 |
| Ý nghĩa của hai chữ Trung Tân |
|
37 |
| Đường đời lòng người và nhà thơ |
|
39 |
| Về tập thơ Ngôn chí |
Phùng Khắc Khoan |
40 |
| Dạy trẻ làm thơ văn |
|
42 |
| Cuộc nói chuyện thơ ở Kim Hoa |
Nguyễn Dữ |
43 |
| THỂ KỶ XVIII |
|
47 |
| Người có sâu cạn cho nên thơ có mờ tỏ rộng hẹp khác nhau |
Nguyễn Cư Trinh |
49 |
| Thơ ngâm vịnh |
Mạc Thiên Tích |
50 |
| Gió, trúc và người nghe (I) |
Ngô Thế Lân |
51 |
| Gió, trúc và người nghe (II) |
Nguyễn Dưỡng Hào |
52 |
| Gió, trúc và người nghe (III) |
Trần Thế Xương |
54 |
| Nghệ thuật phú của ta |
Nguyễn Công Cơ |
54 |
| Bàn về thơ |
Lê Hữu Kiều |
57 |
| Văn xu thời, hào nhoáng,khinh bạc |
Vũ Phương Đề |
60 |
| Đua nhau theo đòi cái ngọn của từ chương |
Vũ Khâm Lân |
62 |
| Liệu có bất chước được không? |
Ngô Thì Sĩ . |
64 |
| Về một phong cách thơ ngoài nếp nhà sẵn có |
|
66 |
| Cỏ thể gọi là uống rượu vịnh trăng được sao |
|
68 |
| Xin chỉnh đốn văn thể |
|
69 |
| Tài nhiều mà không kiêu, không lận thì ai ghét |
Ngô Thì Nhậm |
72 |
| Về phép luật của thơ |
|
75 |
| Bài thơ với Phan Huy Ích |
|
77 |
| Gia và đại gia, |
|
78 |
| Cái thú nói, cười, ngâm nga |
Ngô Thì Chí |
80 |
| Bình bài phú Mộng thiên thai |
|
81 |
| Núi nổi tiếng vì đâu ? |
Ngô Thì Trí |
84 |
| Cái vui luận bàn |
Ngô Thì Hoàng |
85 |
| Về bộ sách Ngô gia văn phái |
Phan Huy Ích |
86 |
| Làm khi mới dịch xong khúc chinh phụ ngâm |
|
90 |
| Thề lệ sưu tập và tuyển thơ |
Lê Quý Đôn |
91 |
| Vân đài loại ngữ (trích): |
|
97 |
| Văn chương |
|
97 |
| Đức và văn |
|
98 |
| Làm thơ có ba điều chính |
|
99 |
| Lẽ đâu văn chương lại làm cho người ta kêu căng |
|
99 |
| Quần thư khảo biên và Thư kinh diễn nghĩa (trích): Chống văn bát cồ; Học người trước cũng cần học cho đúng cách ; Văn học đời Lý — Trần; Nhân dân ta ham thích văn học; Văn phú của Lê Thánh Tông; Văn thề ký truyện và văn viết sử; Kiến thức từ đâu đến?; Viết có nội dung thì văn chương thịnh. |
101 |
| Vân đời loại ngữ một bộ sách quí. |
Trần Danh Lâm |
104 |
| Chống lối học từ chương; cầu công lợi |
Nguyễn Thiếp |
106 |
| Thơ và Ý |
Lê Hữu Trác |
106 |
| Đọc sách nắm được nghĩa chưa phải là |
|
107 |
| Cái hứng trong thơ |
Nguyễn Quýnh |
109 |
| THẾ KỲ XIX |
|
111 |
| Văn chương ăn nhập với thế nước tục dân |
Bùi Huy Bích |
113 |
| Các loại văn nhân |
|
113 |
| Học giả và thi nhân |
Phan Huy Chú |
114 |
| Cái hay của tâm thuật ngụ vào trong văn chương, sách vở |
|
116 |
| Nhận xét về thơ văn các thời |
|
119 |
| Cảm hứng làm Bài ca người gãy đàn đất Long Thành |
Nguyễn Du |
122 |
| Đọc Tiều Thanh ký |
|
124 |
| Lỗi Dương Đỗ Thiếu Lăng Mộ |
|
126 |
| Đoạn trường Tân Thanh đề từ |
Phạm Quý Thích |
127 |
| Thư viết cho Trần Đức Anh |
Nguyễn Văn Siêu |
128 |
| Hai loại văn chương |
|
133 |
| Bàn về vẽ truyền thần |
|
137 |
| Rõ là một áng văn chương của tạo hóa |
|
139 |
| Nguồn văn học |
Lý Văn Phúc |
140 |
| Khi đọc sách |
|
141 |
| Quan niệm về viết |
Nhữ Bá Sĩ |
141 |
| Văn chương là cái hiện trạng của một thời đã làm nên nó |
|
143 |
| Gốc, ngọn, nguồn và dòng của văn chương |
|
146 |
| Ba điều đáng lấy, bảy điều đáng bàn |
|
149 |
| Dạy trẻ học thuộc lòng sách của Chung Hưng Tự chẳng ích gì |
Bùi Dương Lịch |
153 |
| Thơ và tình yêu vợ chồng |
|
154 |
| Sự vận hành của cái thần trong thơ |
|
155 |
| Thơ ưa tự nhiên |
Nguyễn Định Cát |
156 |
| Mơ tưởng về người xưa sao bằng mắt thấy tai nghe về đời này |
Nguyễn Hành |
157 |
| Cảm xúc không giống nhau, thanh âm của tiếng kêu cũng khác. |
|
158 |
| Nhận xét về tình hình văn học cuối Lê và những tệ lậu của nó |
Phạm Đình Hổ |
159 |
| Nhờ du lịch muôn dặm - mới tới được cái thần diệu của văn chương |
Phan Huy Vịnh |
161 |
| Quốc ngữ và văn chương |
Cao Bá Quát |
161 |
| Cái tệ của lối học khoa cử |
|
164 |
| Nhà thơ và lẽ « cùng » « đạt» |
|
166 |
| Đáng phàn nàn cho ta chỉ đóng cửa mà gọt giũa câu văn |
|
168 |
| Thơ và nhạc |
Lê Đình Diên |
171 |
| Tin ở sách nhưng không nệ sách |
Khuyết danh |
172 |
| Cách đọc sách người xưa |
|
174 |
| Than đạo. |
Nguyễn Đình Chiểu |
177 |
| Đề sau bài thơ vĩ dã họa vần |
Miên Thẩm |
177 |
| Bàn về thơ |
|
178 |
| Đọc bài văn ông Nguyễn Đình Chiểu |
|
178 |
| Tựa chép trong hợp tuyển văn |
Miên Trình |
179 |
| Mạt học và hủ nho |
Phạm Văn Nghị |
182 |
| Bàn về thần, khí, thể, cách của thơ |
Nguyễn Tư Giản |
183 |
| Vua rằng xem hoa, tôi rằng xem hoa |
Đỗ Kiêm Thiện |
185 |
| Nam Sơn tùng thoại |
Nguyễn Đức Đạt |
187 |
| Chỗ kỳ điệu của văn chương |
Khuyết danh |
190 |
| Thơ và sử |
|
191 |
| Sĩ là do nông mà ra |
Cao Xuân Dục |
192 |
| Sưu tầm phong dao |
Trần Doãn Giác |
192 |
| Phong dao là quốc sử |
Nguyễn Mại |
194 |
| Nói nông mà ý sâu, nhời quê mà nghĩa rộng |
Vũ Trình Chu |
196 |
| Thơ lục bát. |
Phạm Đình Toái |
197 |
| Ca dao nơi xóm ngõ |
Vương Duy Trình |
200 |
| Có một loại văn chương |
Nguyễn Thông |
201 |
| Chí con người và việc viết dã sử |
Phạm Đình Dục |
203 |
| Phải chấn chỉnh lại học thuật, tức là học những cái thiết thực để mà hành |
Nguyễn Trường Tộ |
205 |
| ĐẦU THẾ KỶ XX |
|
211 |
| Văn minh tân học sách |
Đông Kinh Nghĩa Thục |
213 |
| TỪ TRONG DI SẢN |
Nguyễn minh Tấn |
234 |
| SƠ LƯỢC VỀ CÁC TÁC GIẢ |
|
283 |